Thuốc & Sức khỏe

Cơ chế tăng huyết áp trong suy thận mạn

Đánh giá bài viết ngay

Suy thận và tăng huyết áp là hai bệnh lý có mối quan hệ mật thiết với nhau, người bị tăng huyết áp có thể gây suy thận và ngược lại. Vậy cơ chế tăng huyết áp trong suy thận mạn là gì, cách điều trị và phòng tránh tăng huyết áp và suy thận ra sao. Mời các bạn tìm hiểu trong bài viết dưới đây.

Cơ chế tăng huyết áp trong suy thận mạn
Tăng huyết áp và bệnh suy thận mạn có mối quan hệ tương tác qua lại với nhau. Tăng huyết áp là tình trạng xảy ra ở hầu hết các bệnh nhân bị suy thận mạn giai đoạn 3-5 chiếm 85-90%. Tăng huyết áp là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến suy thận mạn. Những ảnh hưởng tiêu cực của tăng huyết áp tác động tới mạch máu thận.

Nếu bệnh nhân không kiểm soát được tình trạng tăng huyết áp trong thời gian dài sẽ khiến cầu thận phải chịu những áp lực rất lớn và làm giảm mức lọc cầu thận. Khi tiểu cầu thận bị tổn thương sẽ thúc đẩy quá trình lọc protein, làm gia tăng lượng protein trong nước tiểu (protein niệu hoặc albumin niệu vi thể). Và albumin niệu vi thể chính là dấu hiệu đầu tiên của bệnh suy thận mạn. Còn protein niệu sẽ tăng dần theo diễn tiến của bệnh suy thận mạn và gây cả ảnh hưởng đến bệnh tim mạch.

Ngược lại, nếu bệnh nhân bị suy thận kéo dài, chức năng thận suy giảm mạnh, lượng nước bị ứ thừa trong hệ mạch máu ngày một gia tăng khiến cho huyết áp lại càng có cơ hội tăng cao. Hơn nữa, một trong các chứng năng của thận đó chính là kiểm soát huyết áp được ổn định.

Khi người bệnh mắc suy thận mạn, thận bị tổn thương nghiêm trọng, các chức năng bị ảnh hưởng nặng nề, dẫn đến khả năng điều hòa huyết áp của thận cũng tự động suy giảm nhanh khiến huyết áp không được kiểm soát dễ tăng cao. Tình trạng tăng huyết áp, suy thận kéo dài và không được cải thiện sẽ khiến cho bệnh thận ngày càng thêm nghiêm trọng. Có thể kết luận, tăng huyết áp là một trong các biến chứng rất nguy hiểm của bệnh suy thận mạn.

Các giai đoạn của bệnh suy thận mạn
Các mức độ của bệnh suy thận mạn được đánh giá và phân loại dựa theo chỉ số của mức lọc cầu thận, chỉ số đánh giá chức năng lọc chất cặn bã của thận. Theo hướng dẫn của tổ chức Kidney Disease Outcomes Quality Initiative (K/DOQI), suy thận mạn được chia làm 5 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Mức lọc cầu thận từ 90ml/phút/1,73m2 trở lên, tổn thương thận, mức lọc cầu thận tăng hoặc không đổi
Giai đoạn 2: Mức lọc cầu thận từ 60-90ml/phút/1,73m2, tổn thương thận, mức lọc cầu thận giảm nhẹ
Giai đoạn 3: Mức lọc cầu thận từ 30-59ml/phút/1,73m2, mức lọc cầu thận giảm trung bình
Giai đoạn 4: Mức lọc cầu thận từ 15-29ml/phút/1,73m2, mức lọc cầu thận giảm nhiều
Giai đoạn 5: Mức lọc cầu thận dưới 15ml/phút/1,73m2, người bệnh bị suy thận giai đoạn cuối

Mục tiêu điều trị của bệnh suy thận mạn và tăng huyết áp
Giảm huyết áp là mục tiêu điều trị của bệnh nhân suy thận mạn và tăng huyết áp. Giảm huyết áp ở người bệnh bị suy thận nhằm mục đích giảm tỷ lệ mắcc bệnh và tỷ lệ tử vong do bệnh tim và bệnh thận. Để ngăn chặn được diễn tiến của suy thận hoặc những biến chứng nghiêm trọng hơn về bệnh tim mạch, người bệnh cần kiểm soát được huyết áp, giảm lượng protein niệu. Mức huyết áp mục tiêu được các chuyên gia nghiên cứu và xác định là dưới 130/80 mmHg cho bệnh nhân có protein niệu và dưới 140/90 mmHg cho người bệnh không có protein niệu.

Biện pháp điều trị tăng huyết áp và suy thận mạn
Để điều trị tăng huyết áp và suy thận mạn, các bệnh nhân có thể tham khảo các biện pháp dưới đây:

Sử dụng thuốc

Đây là biện pháp phổ biến được các bác sĩ chuyên môn chỉ định cho các bệnh nhân bị suy thận do tăng huyết áp và ngược lại. Dưới đây là một số loại thuốc bạn có thể tham khảo:

Thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc ức chế thụ thể AT1. Nhìn chung, các loại thuốc này dung nạp tốt nhưng có thể gây ra một số tác dụng phụ như ho khan khó chịu, cần điều chỉnh trong quá trình điều trị. Hoặc nếu xảy ra các tác dụng phụ nghiêm trọng hơn như phù mạch thì cần ngừng thuốc ngay và liên hệ với bác sĩ điều trị để có sự thay đổi thích hợp.
Thuốc lợi tiểu thiazid và thuốc lợi tiểu quai. Thiazid (hydroclorothiazid, clorothalidon) được khuyến cáo sử dụng cho các bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn 2 và 3. Thuốc lợi tiểu quai (furosemid, bumetanid, torsemid) được sử dụng cho bệnh nhân bị suy thận ở giai đoạn 4, 5. Các loại thuốc này có thể gây ra một số tác dụng phụ như tụt huyết áp thế đứng nên bệnh nhân cần lưu ý di chuyển từ từ khi thay đổi tư thế từ ngồi sang đứng hoặc sang nằm.
Thuốc chẹn kênh calci: Các loại thuốc này thường được các bác sĩ ưu tiên cho sự lựa chọn thứ 2 hoặc thứ 3 trong phác đồ điều trị tăng huyết áp ở người bệnh suy thận mạn. Thuốc có tác dụng làm giảm hàm lượng protein và hạ huyết áp, điều trị suy thận có kèm hoặc không kèm đái tháo đường. Thuốc có thể gây ra một số tác dụng phụ là táo bón và gây phù, đỏ bừng mặt cho người bệnh.
Thuốc ức chế renin: Aliskiren là thuốc ức chế renin được dùng để điều trị tăng huyết áp dùng độc lập hoặc kết hợp với valsartan, nên sử dụng loại thuốc này cho các bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn 4 và 5.

Điều chỉnh lối sống
Bên cạnh việc sử dụng thuốc, người bệnh cũng cần điều chỉnh lối sống của mình để cải thiện tình trạng bệnh suy thận mạn và tăng huyết áp. 

Tăng cường luyện tập thể dục thể thao duy trì tối thiểu 30 phút mỗi ngày
Xây dựng chế độ ăn uống khoa học, tăng cường rau củ quả, các thực phẩm từ sữa ít béo, thịt nạc và hạn chế ăn đồ dầu mỡ, nhiều chất béo.
Giảm lượng muối trong khẩu phần ăn và các đồ uống có cồn
Duy trì cân nặng ở mức hợp lý, giảm cân nếu bị thừa cân béo phì

Trên đây là những thông tin giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về cơ chế tăng huyết áp trong suy thận mạn cũng như mối liên hệ giữa bệnh suy thận và tăng huyết áp. Từ đó, người bệnh có biện pháp điều trị và chế độ ăn uống, tập luyện sao cho phù hợp hỗ trợ điều trị suy thận và tăng huyết áp hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, bạn cần đến trung tâm y tế để làm các xét nghiệm, chẩn đoán và được hướng dẫn phác đồ điều trị cụ thể từ bác sĩ chuyên môn.

Tìm hiểu thêm:

Cơ chế phù trong suy thận mãn tính là gì? điều trị ra sao?

Bệnh nhân suy thận nên ăn gì?

Nguồn: VHO

Back to top button