Thuốc & Sức khỏe

[Cập nhật 2020] Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp dạng thấp

Đánh giá bài viết ngay

Để chẩn đoán các bệnh lý viêm khớp dạng thấp, các bác sĩ sẽ dựa trên những tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức độ và tình trạng bệnh lý. Từ đó mới đưa ra được hướng điều trị kịp thời và tốt nhất. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu đến bạn những tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp dạng thấp kiến thức y khoa 2020.

Chẩn đoán
Tiêu chuẩn chẩn đoán của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ (ACR) 1987
Hiện nay, tiêu chuẩn chẩn đoán này đang được áp dụng rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới và Việt Nam đối với thể biểu hiện của nhiều khớp. Các cơn đau viêm khớp thường xảy ra trên 6 tuần.

Tình trạng cứng khớp kéo dài hơn 1 giờ và thường xảy ra vào buổi sáng.
Viêm tối thiểu ba nhóm khớp: tràn dịch hoặc sưng phần mềm tối thiểu 3 trong số 14 nhóm khớp sau (kể cả hai bên): khớp bàn tay, khớp ngón gần bàn tay khớp khuỷu, khớp cổ tay, khớp gối, khớp khuỷu, khớp bàn ngón chân, khớp cổ chân.
Viêm khớp ở vùng bàn tay: người bệnh bị sưng một trong số các nhóm khớp như khớp ngón gần, khớp cổ tay, khớp bàn ngón tay.
Viêm khớp đối xứng.
Có hạt ở dưới da.
Xuất hiện những yếu tố dạng thấp ở trong huyết thanh dương tính.
Những dấu hiệu X quang điển hình: chụp khớp tại cổ tay, bàn tay, khớp bị thương tổn. Khớp có những hình dạng như hình hốc, hình bào mòn, hình khuyết ở đầu xương, đầu xương mất chất khoáng, khe khớp bị hẹp.

Chẩn đoán xác định: Khi có 4 tiêu chuẩn trở lên. Các triệu chứng của viêm khớp thường được diễn biến lớn hơn hoặc bằng 6 tuần và được hướng dẫn bởi các bác sĩ. 

Tiêu chuẩn ACR 1987 có độ đặc hiệu lên đến 89% và có độ nhạy trong khoảng 91 đến 94%. Khi bệnh mới ở giai đoạn đầu, độ đặc hiệu của bệnh nằm trong khoảng từ 50 đến 90%, độ nhạy của bệnh dao động từ 40% đến 90%

Lưu ý:  Tình trạng hạt dưới da thường rất hiếm gặp ở Việt Nam. Mặc dù vậy, các khảo sát liên quan đến những triệu chứng ở bên ngoài khớp như viêm mống mắt, tràn dịch màng phổi, tràn dịch ngoài màng tim, teo cơ, viêm mạch máu… thường xuất hiện ít hơn và dễ bị bỏ qua.

Tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ và Liên đoàn chống Thấp khớp châu Âu 2010 (ACR/EULAR 2010 – American College of Rheumatology/ European League Against Rheumatism).
Tiêu chuẩn này hay được sử dụng khi bệnh đang ở trong giai đoạn khởi phát, tình trạng viêm khớp xảy ra dưới 6 tuần và thuộc thể ít khớp. Mặc dù vậy, người bệnh cần phải theo dõi tình trạng bệnh để chẩn đoán bởi trong nhiều trường hợp, đây có thể là những dấu hiệu của nhiều bệnh lý khác chứ không phải riêng mỗi viêm khớp dạng thấp.

Đối tượng phù hợp để áp dụng tiêu chuẩn này:

Người mắc phải một trong số các loại khớp được xác định dựa trên viêm màng hoạt dịch trên lâm sàng.
Viêm màng hoạt dịch không do các bệnh lý khác.

Xét nghiệm cận lâm sàng cần chỉ định

Những xét nghiệm cơ bản bao gồm: Xét nghiệm tốc độ lắng máu, xét nghiệm tế bào máu ngoại vi, xét nghiệm protein phản ứng C (CRP)… Ngoài ra, bệnh nhân phải thực hiện các xét nghiệm khác như xét nghiệm chức năng thận, gan, điện tâm đồ, chụp X quang tim phổi…
Những xét nghiệm đặc hiệu ( Có tác dụng tiên lượng, chẩn đoán):
Xét nghiệm yếu tố dạng thấp (RF) dương tính ở 60 đến 70% số lượng bệnh nhân.
Xét nghiệm anti CCP dương tính từ 75% đến 80% số bệnh nhân.
Chụp Xquang khớp (Thường chụp ở các khớp bị thương tổn và chụp hai bàn tay thẳng)

Những chẩn đoán phân biệt
Bao gồm các chẩn đoán như chẩn đoán thoái hóa khớp, chẩn đoán phân biệt Lupus ban đỏ hệ thống, viêm cột sống dính khớp, bệnh gút mạn tính, viêm khớp vảy nến…

Sau khi thực hiện các xét nghiệm và chẩn đoán, các bác sĩ sẽ nhận biết được những thương tổn để có thể đánh giá và chỉ định bệnh nhân điều trị bằng việc áp dụng các phương pháp cụ thể. Các phương pháp phải thực sự phù hợp với thể trạng của từng người. 

Trên đây là những thông tin về các tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp dạng thấp. Nếu còn bất cứ vấn đề thắc mắc nào, bạn hãy liên hệ với chúng tôi để được giải đáp cụ thể nhé.

Nguồn: VHO

Back to top button